Phân tích khổ thơ đầu bài Tương Tư của Nguyễn Bính | Văn mẫu

(Văn mẫu lớp 11) – Em hãy Phân tích khổ thơ đầu bài Tương Tư của Nguyễn Bính

(Bài phân tích tác phẩm thơ của bạn Hà My lớp 11A2 trường THPT Hùng Vương).

BÀI LÀM

“Hoa chanh nở giữa vườn tranh
Thầy u mình với chúng mình chân quê”
(“Chân quê” – Nguyễn Bính)

Rất nhiều người công nhận Nguyễn Bính là nhà thơ “quê mùa” nhất trong thơ hiện đại Việt Nam. Riêng tôi, tôi cho rằng từ “chân quê” hợp với Nguyễn Bính hơn. Nguyễn Bính muôn đời vẫn trung thành nhất nhất với bản sắc văn hóa truyền thống Việt, với những mối duyên tơ tình tự mà tế nhị, thẹn thùng. Chỉ một đoạn thơ ngắn trong bài “Tương tư”, người đọc sẽ thấy một cái tôi rất Nguyễn Bính:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Nguyễn Bính (1918-1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, người Vụ Bản, Nam Định. Nguyễn Bính thuộc nhóm nhà thơ lãng mạn, được coi là nhà thơ của làng quê Việt Nam. Thơ Nguyễn Bính tựa nàng thiếu nữ thôn quê mộc mạc, mặn mà, sâu sắc, kín đáo, dung dị, đằm thắm. Người ta dễ thấy cái hồn cốt người Á Đông trong mỗi con chữ, ngôn từ, cách gieo vần, thả âm, nhấn thanh. Và cũng thấy cả một trái tim đau đáu cho những bản sắc và bản chất tốt đẹp của người xưa đang dần mai một vì sự du nhập của các nền văn hóa mới. 

Vậy đó, Nguyễn Bính đâu đưa ta đến vườn trần nào đâu. Nguyễn Bính chỉ sống với không gian ao làng, có thôn Đoài, thông Đông, có người tình xóm bên hay e hay thẹn:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”

Thôn Đông hay thôn Đoài là những địa danh quen thuộc ở làng quê xóm nhỏ Việt Nam. Những cái tên ấy gợi ra không gian của những mái nhà tranh san sát, có những con đường nhỏ uốn quanh, có cây cầu bắc ngang nối giữa thôn này với thôn nọ. Nguyễn Bính đã nhân hóa 2 địa danh này, gieo vào nó cảm xúc của con người – “nhớ”. Nỗi nhớ xa xôi giữa hai thôn dường như tượng trưng cho chàng trai và cô gái nào đó đang phải lòng nhau. 

phân tích khổ thơ đầu bài tương tư

Hai nhân vật ấy được cụ thể hóa trong câu thơ tiếp:

“Một người chín nhớ mười mong một người”

Đó là “một người” và “một người”. Hai con người ấy không tên tuổi, không danh xưng. Cho nên, nó có khả năng điển hình hóa. Một mối tình riêng nhưng mang đậm văn hóa thôn quê. 

Cách nói “chín nhớ mười mong” cũng rất độc đáo. Có ai lại đếm được nỗi nhớ, nỗi mong. Tác giả tách một bên “chín nhớ” và một bên “mười mong” trao cho hai chủ thể. Chính cách tách riêng như vậy ngược lại khiến người đọc có cảm giác như hai chủ thể đang hòa vào một, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Tình yêu của ai, nơi đâu, ta không rõ. Nhưng tình yêu xa xôi ấy lại nồng nàn như thể rất gần, rất đậm. 

Nhưng Nguyễn Bính không gọi là “yêu”, chàng thi sĩ gọi bằng động từ rất chân chất: “tương tư”. Hãy nghe người nói:  

“Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Cái bệnh “tương tư” sao mà đáng yêu tới thế. Ở đây, thi sĩ đã tế nhị so sánh mối tương tư với nắng mưa. Làm gì có trời nào mà mắc bệnh nắng, bệnh mưa. Chỉ có lòng người là như chốc mưa, chốc nắng. Người đang tương tư thất thường lắm, tâm trạng khi ấm áp có khi lại cay đắng, có lúc sáng rực rỡ cũng có khi u tối mịt mùng. Đáng yêu biết mấy. Trong sáng biết mấy.

Tóm lại, đoạn thơ độc 2 câu lục bát đầu bài thơ “Tương tư” đã cho thấy toàn bộ nội dung tâm hồn, tư tưởng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính. Chất thơ mộc mạc, vừa đậm phong vị dân gian vừa đầy sáng tạo mới mẻ đã chứng tỏ Nguyễn Bính là một trong những đỉnh cao thơ Mới lãng mạn có cái tôi rất dân dã. Nếu như Xuân Diệu nhập vào dòng văn học Pháp mà viết lên những câu thơ khiến người ta thấy sửng sốt, nếu như Thế Lữ hay Chế Lan Viên không chịu trở về, nếu như Hàn Mặc Tử đắm chìm trong thế giới ảo mộng… thì Nguyễn Bính lại chọn đi về với “chân quê”. 

>>> XEM THÊM : 

Post Author: adminlgv